1. Home
  2. Blog
  3. NHỮNG ĐIỀU SƠ LƯỢC CẦN BIẾT CỦA KẺ TU-HIỀN TẠI GIA

NHỮNG ĐIỀU SƠ LƯỢC CẦN BIẾT CỦA KẺ TU-HIỀN TẠI GIA

by Em An, 27 Aug 2026

SẤM GIẢNG QUYỂN 6: TÔN CHỈ HÀNH ĐẠO
Muốn tiến đến con đường giải thoát, người tu tại gia phải làm tròn Nhân Đạo. Tức là, trước hết phải làm tròn đạo làm người.
Muốn làm tròn đạo làm người, phải giữ trọn Tứ Ân, tránh Tam-Nghiệp và chừa Thập-Ác, đồng thời thực hành luôn Bát Chánh. Đây chính là con đường mà Đức Thầy chỉ dạy, cho những ai muốn thoát chốn mê-đồ, từng bước sửa mình và tiến triển trên đường giải-thoát.

NHỮNG ĐIỀU SƠ LƯỢC CẦN BIẾT CỦA KẺ TU-HIỀN

Đạo Phật từ xưa tới nay luôn luôn phân làm hai hạng người:

   1. Hạng xuất gia
   2. Hạng không xuất gia


HẠNG XUẤT GIA: Gồm có các nhà sư hay những ni-cô đã hoàn-toàn ly-khai với gia-đình, quê hương, bè-bạn, dựa thân vào cửa Thiền hay núi non am cốc, hàng ngày chỉ chuyên lo kinh-kệ, săn-sóc cảnh dà-lam, trau luyện đức lành, dồi mài trí-tuệ hầu giảng giải cho bá-tánh thập phương nghe để quay đầu hướng thiện qui-y Phật pháp, không còn thiết đến việc đời. Gia-đình nhà cửa của nhà sư là cả thế gian, thân quyến nhà sư là khắp nhân loại đại đồng.
Đó là hạng người dốc tu cho mau thành Phật quả thoát kiếp luân-hồi.
HẠNG TẠI GIA: Gồm tất cả đại chúng, tất cả thiện-nam tín-nữ chưa đủ những điều-kiện xuất-gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với non sông tổ quốc, với gia-đình, với đồng-bào xã-hội, nên chưa thể làm như các nhà sư hay ni-cô đặng. Tuy vậy họ cũng sẵn-sàng hoan-nghinh ca-tụng lý-tưởng từ-bi bác-ái đại-đồng của nhà Phật và luật Nhân-quả do Phật thuyết ra. Thế nên ở nhà họ phượng thờ Đức Phật, phát nguyện qui-y, giữ gìn ít điều giới-luật, hằng coi kinh sách, sửa tánh, răng lòng, ủng-hộ các sư. Như thế họ cũng lần lần lên con đường giải-thoát.
Đây là hạng người học Phật tu Nhân.
Bàn xét như trên, thấy rằng toàn-thể trong Đạo chúng ta thuộc hạng tại tư gia cư-sĩ, học Phật tu Nhân vậy.
Sách xưa có câu: "Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên" (muôn vạn quyển kinh của Phật, Thánh Tiên đều dạy sự hiếu-nghĩa làm đầu). Hôm nay đã qui-y nhà Phật, tu-niệm tại-gia, ta hãy cố-gắng vưng lời Thầy, Tổ đã dạy, lo tròn câu hiếu-nghĩa.
Đức Phật Thầy TÂY-AN thuở xưa thường khuyến-khích các môn nhơn đệ-tử rằng: Muốn làm xong hiếu nghĩa, có bốn điều ân ta cần phải hy-sinh gắng-gổ mới mong làm trọn:
   1. Ân Tổ-Tiên cha me,
   2. Ân Đất-Nước,
   3. Ân Tam-Bảo,
   4. Ân Đồng-Bào và Nhơn-Loại (với kẻ xuất-gia thì ân đàn-na thí-chủ).

ÂN TỔ-TIÊN CHA MẸ: Ta sanh ra cõi đời được có hình-hài để hoạt động từ thuở bé cho đến lúc trưởng thành, đủ trí khôn ngoan, trong khoảng bao nhiêu năm trường ấy, cha mẹ ta chịu biết bao khổ nhọc; nhưng sanh ra cha mẹ là nhờ có tổ-tiên, nên khi biết ơn cha mẹ, cũng có bổn phận biết ơn tổ-tiên nữa.

Muốn đền ơn cha mẹ, lúc cha mẹ còn sanh tiền, có dạy ta điều hay lẽ phải ta rán chăm-chỉ nghe lời, chớ nên xao-lãng làm phiền lòng cha mẹ. Nếu cha mẹ có làm điều gì lầm lẫn trái với nhân-đạo, ta rán hết sức tìm cách khuyên-lơn ngăn- cản. Chẳng thế, ta cần phải lo nuôi dưỡng báo đền, lo cho cha mê khỏi đói rách, khỏi-bệnh hoạn ốm đau, gây sự hòa-hảo trong huynh đệ, tạo hạnh-phúc cho gia-đình, cho cha mẹ vui lòng thỏa-mãn. Rán cầu cho cha mẹ được hưởng nhiều phước thọ. Lúc cha mẹ quá vãng, hãy tu cầu cho linh hồn được siêu-thăng nơi miền Phật cảnh, thoát đọa trầm-luân.

Còn đền ơn tổ-tiên, đừng làm điều gì tồi tệ, điếm nhục tông môn, nếu tổ-tiên có làm điều gì sai lầm, gieo họa đau thương lại cho con cháu, ta phải quyến chí tu cầu và hy-sinh đời ta làm điều đạo-nghĩa, rửa nhục tổ-đường.

ÂN ĐẤT-NƯỚC: Sanh ra, ta phải nhờ Tổ-tiên, cha mẹ, sống ta cũng phải nhờ đất nước, quê-hương. Hưởng những tất đất, ăn những ngọn rau, muốn cho sự sống được dễ dàng, giống nòi được truyền-thụ, ta cảm thấy bổn-phận phải bảo vệ đất-nước khi bi kể xâm-lăng giày đạp. Rán nâng-đỡ xứ sở quê-hương, lúc nghiêng-nghèo, và làm cho trở nên được cường thạnh. Rán cứu cấp nước nhà khi bị kẻ ngoài thống trị. Bờ-cõi vững-lặng thân ta mới yên, quốc-gia mạnh giầu mình ta mới ấm.

Hãy tùy tài tùy sức, nỗ-lực hy-sinh cho xứ-sở. Thảng như không đủ tài lực đảm-đương việc lớn, chưa gặp thời-cơ giúp đỡ quê-hương, ta phãi rán tránh đừng làm việc gì sơ-xuất đến nỗi làm cho nước nhà đau khổ, và đừng giúp sức cho kẻ ngoại địch gây sự tổn hại đến đất-nước.

Đó là ta đền ơn cho đất-nước vậy.

ÂN TAM-BẢO: Tam-Bảo là gì ? Tức Phật, Pháp, Tăng.

Con người nhờ tổ-tiên cha mẹ sanh ra nuôi dưỡng, nhờ đất-nước tạo kiếp sống cho mình, ấy về phương diện vật chất.

Về phương diện tinh-thần, con người cần nhờ đến sự giúp đỡ của Phật, Pháp, Tăng khai trí mở óc cho sáng-suốt. Phật là đấng toàn-thiện, toàn-mỹ, bác-ái vô cùng, quyết cứu vớt sanh-linh ra khỏi trầm-luân khổ-hải. Thế nên Ngài mới truyền lại giáo pháp, tức là những lời chỉ dạy cho các chư tăng, đặng đem nền Đạo cả của Ngài ban-bố khắp trần thế. Các chư tăng chẳng ai lạ hơn những đại-đệ tử của Đức Phật vậy. Bởi vì Đức Phật luôn luôn chỉ dẫn và cứu vớt quần sanh thoát miền mê khổ, nên ta phải kính trọng Phật, hãy tin-tưởng và tín-nhiệm vào sự-nghiệp cứu đời của Ngài, làm theo những lời chỉ dậy do các chư tăng cho biết. Tổ tiên ta đã hiểu rõ sự nhiệm-mầu, lòng quảng-ái của Phật đối với chúng-sanh, đã kính trọng sùng-bái Ngài, đã hành-động đúng theo khuôn-khổ Ngài đã dạy và đã vun-trồng bồi đắp cho nền Đạo được phát-triển thêm ra, xây dựng một tòa lâu đài Đạo-hạnh vô thượng vô song roi truyền mãi mãi với hậu thế.

Nên bổn-phận chúng ta phải noi theo chí đức của tiền-nhân hầu làm sao trí-tuệ minh-mẫn đặng đi đến con đường giải-thoát, dẫn dắt giùm những kẻ sa cơ và nhứt là phải tiếp-tục khai thông nền Đạo đức đặng cái tinh thần từ-bi bác-ái được gieo rải khắp nơi nơi trong bá-tánh. Như thế mới chẵng phụ công trình vĩ-đại của Đức Phật và của tiền-nhân để lại và không đắc tội với kẻ đời sau vậy.

ÂN ĐỒNG-BÀO VÀ NHÂN-LOẠI: Con người vừa mở mắt chào đời đã thấy mình phải nhờ đến sự giúp-đỡ những kẻ xung-quanh và cái niên-kỷ càng lớn thêm bao nhiêu, sự nhờ-nhõi càng tuần-tự thêm nhiều chừng nấy.

Ta nhờ hột cơm của họ mới sống, nhờ miếng vải của họ mới ấm thân, nhờ cửa nhà của họ mới tránh cơn phong-vũ. Vui-sướng, ta đồng hưởng với họ. Hoạn-nạn, họ cùng chịu với ta.

Họ và ta cũng một màu da, cũng nói một thứ tiếng. Ta và họ hợp nhau thi thành lại làm một: ấy Quốc-gia đó. Họ là ai? Tức những người ta thường gọi bằng đồng-bào vậy.

Đồng-bào ta và ta cùng chung một chủng-tộc, cùng một nòi-giống roi truyền, cùng có những trang lịch-sử vẻ-vang oanh-liệt, cùng tương trợ lẫn nhau trong cơn nguy- biến, cùng chung phận-sự đào-tạo một tương-lai rực rỡ trong bước tiền đồ của giang-san đất nước. Đồng-bào ta và ta có một liên-quan mật-thiết không thể rời nhau, chẳng thể chia nhau và chẳng khi nào có ta mà không có đồng-bào, hay có đồng-bào mà không có ta. Thế nên ta phải ráng giúp đỡ họ hầu đền đáp cái ơn mà ta đã thọ trong muôn một.

Chẳng những thế thôi, ngoài-đồng bào ta còn có thế-giới, người đang cặm cụi cần-lao cung cấp những điều nhu-cầu cần-thiết. Họ là nhân-loại, là những người đang sanh sống với chúng ta trên quả địa-cầu. Nếu không có nhân-loại, thử hỏi dân-tộc ta ra như thế nào? Ta có đủ vật liệu để dùng chăng? Ta có thể tự-túc một cách đầy đủ chăng? Nói tóm lại, ta có thể lẻ-loi đương đầu với những khi phong-vũ nhiệt hàn với những lúc ốm đau, nguy biến, giữ vững cuộc sống còn này chăng? Hẳn không vậy. Thế nên dân-tộc ta phải nhờ đến Nhân-loại, nghĩa là nhờ đến dân-tộc khác và phải biết ơn họ. Hãy nghĩ đến họ cũng như mình nghĩ đến mình và đồng-chủng mình.

Vả lại, cái tính từ-bi bác-ái của Đức Phật mà ta đã nhận thức, rất thâm-huyền quảng-huợt. Cái tính ấy nó không bến không bờ, không phân biệt màu da, không phân biêt chủng-tộc; nó cũng không luận sang hèn và xóa bỏ hết các từng lớp đẳng cấp xã-hội mà chỉ đặt vào một Nhân-loại Chúng-sanh.

Thế ra không có lý do gì chánh đáng để vì mình hay vì đồng-bào mình gây ra tai-hại cho các dân-tộc khác. Trái lại, hãy đặt vào họ một tư-tưởng nhân-hòa một tinh-thần hỉ-xả và hãy tự xem mình có bổn-phận giúp đỡ họ trong cơn hoạn nạn.

Đối với những kẻ xuất-gia qui-y đầu Phật, phụ vào những ân-huệ đã thọ như đã nói trên, họ còn phải trực-tiếp chịu ân các đàn-na thí-chủ, nghĩa là những thiện-nam tín-nữ có hảo tâm cung-cấp những vật dụng cần-thiết cho họ. Họ nhờ đến hột cơm, đến miếng vải, đến thuốc men đặng sanh sống, rốt lại họ phải nhờ đến sự nuôi dưởng hoàn-toàn của những kẻ tốt lòng.

Với quần-sanh, họ mang cái ơn rất nặng, cho nên họ phải dìu-dắt sinh linh đi tầm Chân-lý đặng đáp tạ tấm lòng chiếu-cố của thiện-tính.

LUẬN VỀ TAM-NGHIỆP

Sanh ra ở đời, con người dầu muốn dầu không, cũng phải chịu dưới sự chi phối của định-luật thiên-nhiên. Định-luật ấy gồm vào môt chữ ĐẠO, đạo của con người kêu bằng Đạo-Nhân và đó là con đường đi trúng thì sống, bước trật tất chết

Muốn làm tròn Nhân-Đạo, phải giữ vẹn tứ ân. Nhưng trước hết hãy tránh Tam-nghiệp và chừa Thập-ác, cũng như muốn làm giầu phải tránh đừng cho thiếu nợ.

Mỗi người đều có ba nghiệp chướng sau đây:

    Thân nghiệp: (tội lỗi do xác thân gây nên);
    Khẩu nghiệp: (tội lỗi do miệng lưỡi gây nên);
    Ý nghiệp: (tội lỗi do ý tưởng gây nên);


Ba nghiệp-chướng ấy khiến con người phạm mười điều ác kể ra dưới đây:

Thân nghiệp sanh ba điều ác:

   1. Sát-sanh
   2. Đạo-tặc
   3. Tà-dâm


Khẩu nghiệp sanh 4 điều ác:

   1. Lưỡng-thiệt.
   2. Ý-ngôn.
   3. Ác-khẩu
   4. Vọng-ngữ.


Ý nghiệp sanh 3 điều ác:

   1. Tham-lam
   2. Sân-nộ
   3. Mê-si


SÁT SANH:
Con người mới sanh ra ở đời đều có tánh hiền lành cả. Song đến lớn khôn vì phải chung chạ với thế-giới người hung tàn bạo-ngược, tánh nết ô-nhiễm những sự xấu xa hèn kém, trở nên độc-ác dữ dằn.

Loài người giết nhau vì tiền tiền bạc, vì sắc đẹp, vì lợi-danh, vì quyền-thế, vì thù hềm, vì háo thắng... nghĩa là họ giết nhau vì sự ích lợi của một người, của một nhóm người, của một đẳng cấp xã-hội, của một quốc-gia; họ muốn tiêu-diệt tất cả nhân-loại, không một ai có quyền sống sanh cùng họ cả.

Tại trào-nội, sự mà vua coi bầy tôi như cỏ rác, bầy tôi sánh vua như thể địch thù đã làm nguyên nhân cho biết bao cuộc tương-tàn tương-sát. Ngoài lê-thứ thì con giết mẹ cha, tớ hại chủ, trò giết thầy, chồng vợ giết nhau, đệ huynh xâu xé. Những cuộc tương-tàn rất thường xảy ra trong nhân-loại không ngoài các lý-do kể trên. Đó là người đối với người.

Người đối với thú cầm, sanh-vật còn tàn nhẫn gấp mấy nữa: họ giết thú vật vì miếng ăn, vì dị-đoan mê tín, vì sự vui thích. Đành rằng mình không thể dứt tuyệt giết các sanh vật (gà, vịt, heo..,) để nuôi thân sống, nhưng chẵng khá dựa vào lý vật dưỡng nhơn (thú vật sanh ra đặng nuôi con người) mà giết nó một cách quá đáng. Chỉ cần dùng nó vào đúng theo sự nhu-cầu cần thiết của các món thực-phẩm mình thôi và không nên hoang phí hy-sinh nó, nếu sự hy-sinh ấy không ích lợi cho mình lắm. Nhất là chẳng khá giết các thú vật trong khi tế lễ. Người ta tưởng rằng khi mình phạm tội với Thánh, Thần, Trời, Đất có thể sát hại sanh vật chúng tế cầu cho tội quả tiêu trừ. Sự tin tưởng ấy rat sai lầm huyền-hoặc, vì đứng vào bực hình cao cả như chư-vị Thánh Thần, có lý nào vì một tình riêng làm sai chạy lẽ công. Khi gặp tai nạn bất ngờ hay rủi ro đau ốm, con người không chịu thuốc thang, khấn vái Phật Trời cầu cho tai nạn qua khỏi, lại giết các thú vật tế Thấn cúng Thánh, kêu cốt, kêu đồng. Họ không chịu tìm nguyênn nhân các sự họa-hoạn, không chịu tìm hiễu rằng những tai biến xảy ra đều do căn tiền báo quả hậu và khônng chịu ăn-năn chừa lỗi, tạo-tác phước điền. Trong khi giết các thú vật đặng tế lễ, họ đã phạm thêm một tội ác lúc họ chưa đền bồi các tội ác trước được.

Chẳng những vậy thôi, họ còn giết các thú-vật vì sự vui thích của mình ; kẻ bắn chim đang bay trên trời, người chặt cá đang lội dưới nước. Họ bắt thú vật làm tấm bia cho họ nhắm trong những khi cao hứng quên hẳn rằng sinh vật cũng có linh hồn, cùng có thân xác, cũng biết tìm lẻ sống còn như nhân loại vậy.

Thế nên, hãy tha thứ cho chúng, hãy dung dưỡng chúng và nhất là đối với các gia-súc : trâu,bò, ngựa, chó,mèo... chẳng khá sát hại, vì chúng đã giúp ích cho ta trong các việc sanh hoạt-hằng ngày. Tóm lại, không có sự sát sanh vô cớ nào có thể tha thứ được và trong những ngày cha lạt hãy cữ hẳn.

Đạo Tặc: Câu Bần cùng sanh đạo-tặc cần phải là một câu chữa mình của bọn bất lương vô đạo. Những kẻ nầy ngày vẫn-vơ đầu đường xó-chợ, tối kiếm chỗ khoét vách đào tường, không làm muốn có ăn, không lo muốn có mặc. Lớp người cặn-bã của xã-hội nầy, sống ngoài vòng pháp luật, trốn nhủi trốn chui, phá rối sự an-ninh của dân chúng, chuyên lo giết người cướp của đoạt giựt tài-sản của lương dân, không nghĩ rằng phải tốn bao nhiêu giọt mồ-hôi, bao nhiêu dòng nước mắt mới làm ra được. Họ là giống sâu làm rầu nồi canh, là tội nhân gây ra những tai biến trong những gia- đình cần-lao kiệm-tiết, là nguyên-nhân của sự nghèo khổ, họ phá-hoại hạnh phúc của con người.

Cơ-hàn đói khó, thay vì phải làm lụng như những kẻ khác mưu cuộc sống còn, họ gây cái lỗi này rồi đến cái lỗi khác, phạm tội này rồi tới tội nọ, tạo chẳng biết bao nhiêu chuyện bất lành cho nhân-chủng. Lưới trời tuy thưa nhưng khó lọt, những kẻ ấy dầu họ không bị luật hình của loài người phân-xử, song cơ Trời cũng sẽ báo ứng đến những hành-vi đen tối, nếu họ không chịu-ăn năn chừa lỗi, sửa tánh tu thân, bỏ thói vô nghi, lánh điều phi nghĩa:

TÀ DÂM:
"Muôn việc lành hiếu-thuận đứng đầu, ngàn việc dữ tà dâm đứng trước" Sách sử thường bảo như thế.

Lần dở xem sử-sách, thời thấy tội ác ấy lan diễn khắp nơi, từ trào-nội cho đến thư- dân, từ trong gia-đình cho đến kẻ xa người lạ, nó là mầm gây ra biết bao thảm-trang! Gương của vua Tề với vợ Thôi-Tử, An-lộc-sơn với Dương- quí-Phi há chẳng còn lưu-liên hậu thế. Giàu ỷ của hiếp-dâm kẻ khó, quan ỷ quyền cường bức đám dân hèn. Gian phu, dâm phụ từ xưa đến nay luôn luôn đều có.

Muốn tránh sự bại hoại nền luân lý nước nhà, nuốn giữ-gìn tiếng tăm của gia- thế, phải đừng để dục tình lôi-cuốn, bắt trước gương xưa trau dồi lòng hiếu trung trinh- tiết.

LƯỠNG-THIỆT:
Đứng đầu các tội ác do miệng lưỡi gây ra, ác lưỡng-thiệt này đã làm duyên cớ cho những sự hiểu lầm nhau, những sự cãi-vả gây-gổ sanh oán sanh thù. Sự phải của người thì bớt, sự quấy của người thì thêm, cái lưỡi đã tạo những sự chia rẻ, những cuộc phân tranh, phá tan sự đoàn-kết tình thân yêu giữa nhân-loại. Nó cũng là nguồn-cội của bao nhiêu bất-hòa, hiềm-kích.

Để giải-trừ những tai-vạ ấy, phải giữ cho lời nói của mình được thành thật, chánh đáng ; được vậy trong hương-đảng mới bớt rầy-rà, ngoài xã-hội không điều xích-mích và mình cũng không chịu ác cảm, tránh sự miệt-khinh của kẻ khác.

Ỷ NGÔN:
Nói đến tội ác này tức là nói đến những vụ chủ ỷ quyền nhiếc xài tôi tớ, quan ỷ thế mắng chửi dân ngu. Kẻ giàu có thường ỷ tiền bạc xài xỉ người nghèo, kẻ xảo-quyệt ỷ sự khôn lanh nói những điều thất thiệt, kẻ học thức ỷ sự khôn ngoan dùng lời nói hạ nhục người dốt nát.

Hãy tránh những sự hiếp người như thế ấy, vì những kẻ dưới tay mình cũng có đầu óc, cũng biết nghĩ suy, nhưng tại họ bạc phước vô phần nên phải chiu lụy mình vậy. Nếu họ có lỗi lầm hãy dạy dỗ họ, dùng những cam ngôn mỹ-từ, những lời trang nghiêm êm dịu chỉ bảo, không khá bao biếm mà mang điều tội lỗi.

ÁC KHẨU:
Những tiếng thề thốt, lỗ mãng, chưởi mắng tục tằn làm ra lỗi này ; con chưởi mẹ mắng cha không kể luân-thường thảo hiếu; mạnh bao hăm he đánh giết những kẻ yếu hèn, hiếp đáp xóm chòm cô bác. Mở miệng ra chưởi gió mắng mây, trù rủa gia-đình, không kiêng Thần Thánh. Tối ngày kêu réo Phật Trời, mời thỉnh Long-cung, làm cho tội lỗi càng thêm chồng chập.

Hãy bỏ những tiếng tục-tằn thô-lỗ làm cho đời sống được êm dịu thanh bay hơn. Đối với cha mẹ phải có lễ độ, với gia đình, với bà con cô bác, với xóm chòm quen thuộc, lời nói mình phải đoan trang nghiêm-chỉnh. Đối với con cháu trong nhà không nên nói những điều ác đức; phải dùng lời nói dịu dàng hiền hậu dạy dỗ chúng.

VỌNG-NGỮ:
Thêm thừa huyển-hoặc, có nói không, không nói có, ác vọng- ngữ đã làm nguyên nhân cho những sự bất công của nhân-loại. Thương người nào kiếm cách bào-chữa giấu-giếm sự quấy và thêu-thùa sự tốt ra, ghét ai đặt điều nói xấu và che đậy những điều phải của họ. Khoe-khoan, tự- đắc, xảo-trá đa-ngôn, những kẻ điêu-ngoa làm cho thiên-hạ khinh-khi miệt-thị.

Muốn tránh những điều khiến cho tư-cách nhân quần phải bị giảm hạ, hãy tập tánh nói năng chân-chánh, bỏ lối láo xược trớ trêu. Chẳng nên tráo-trác với người, bỏ tiếng xảo-ngôn và phải dùng lời chơn-chất.

THAM-LAM:
Tánh tham-lam đã làm cho loài người phải chịu bao nhiêu thảm khổ : Chiến-tranh, cướp bóc, giết người... Tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài, tham quyền, tham thế... Những sự ấy đã xô đẩy con người vào chẳng biết bao nhiêu cuộc chiến đấu ác liệt, gây nên những thảm họa tầy trời. Những tấn tuồng giặc giả cướp của sát nhơn, những vụ hối lộ, những vụ tranh thế giành quyền đã làm cho nhân-sanh điêu-linh trong vòng tai nạn khốc hại. Cái tham ấy cũng làm cho con người đau buồn hận khổ, phải khóc đứng than ngồi, phải liều mình tự-sát chỉ vì sự ham muốn không được thực-hiện, người ta quyên-sinh vì tình yêu, vì lợi quyền, vì thất trận... Những cuộc cấu xé lẫn nhau, những vụ nồi da xáo thịt, những tương sát tương tàn, những điều hung hăng bạo-ác cũng do sự tham lam mà ra cả. Ngày giờ nào loài người diệt được tánh ham muốn của mình, ngày giờ ấy bớt được một phần lớn của sư khổ. Vả lại, ở đời phải có những lúc thăng trầm chìm nổi, có thì ta xài, không ta nhịn, can gì phải bày mưu tính kế chiếm đoạt của kẻ ngoài. Của là của chung trong thiên hạ, đời ta còn, nó còn ; đời ta mất, nó mất ; gương Thạch-Sùng, Vương-Khải há không để lại cho ta một bài học đích-đáng lắm ru? Thế nên hãy nghĩ đến người cũng như mình nghĩ đến mình, hãy dẹp lòng vị-kỷ tham lam, lo vun-trồng phước đức, bố thí kẻ nghèo hèn, rán công-phu sám-hối để có thể yên vui miền Cực-Lạc, lánh sự giả tạm ở cõi trần nầy.

SÂN-NỘ:
Tánh nóng nẩy thường xúi con người làm những chuyện bất-công sái phép, chém- giêt oán-thù nhau. Kẻ thắng kiêu-hãnh, người bại hổ ngươi, nên sự hềm thù càng lan rộng "Giận mất khôn", cơn giận làm cho con người cuồng trí, mất sự tự chủ, trở nên dữ-dằn bạo tợn, chẳng còn nghĩ đến sự công-bình, lẽ phải trái.

Diệt được nó, tâm ta được thảnh-thơi, trí ta được thong-thả. Hãy mở lượng khoan hồng dung tha kẻ lầm-lỗi. Hãy nhẫn nhịn và chẳng nên cãi cọ, tranh luận hơn thua làm cho nảy sanh ra những điều hềm-khích.

MÊ-SI:
Tội ác nầy do sự thiếu óc phán-đoán thiếu sự nghĩ suy mà ra; vì vậy con người ít hay phân biệt được lẽ phải trái, bo bo giữ thiển kiến sai lầm, chẳng chịu nhìn nhận chơn-lý. Suốt cả đời ngu-muội, chỉ biết mê man theo những vât nhỏ nhen, mau tan, mau rã, chỉ biết tin hướng làm càn, không tìm hiểu con đường giải-thoát.

Hãy xóa bỏ những điều mê-tín, qui-thuận theo tinh thần đạo-đức, lánh chồn mê lầm, tỉnh cơn mộng-huyễn phá tan màn vô-minh che mờ tâm-trí, lần bước trên con đường đạo hạnh, đi đến chổ Bất-diệt, Bất-sanh.

LUẬN VỀ BÁT CHÁNH

Trừ xong ba nghiệp chướng, hãy làm theo tám điều chánh và sau khi diệt được thập ác rồi, tự nhiên mười điều lành hiện ra: như thế ta đã đi thêm được một bước trên con đường Đạo-hạnh. Những sự tấn-bộ ấykhông có nghĩa là đạt được mục đích. Thế nên, cần phải hành luôn Đạo Bát-Chánh tiếp theo, vì đó là quyển kinh nhựt tụng của những ai muốn thoát chốn mê-đồ, tấn-triển trên đường giải-thoát.

Bát-Chánh gồm có:

   1. Chánh kiến
   2. Chánh tư-duy
   3. Chánh nghiệp
   4. Chánh tinh-tấn
   5. Chánh mạng
   6. Chánh ngữ
   7. Chánh niệm
   8. Chánh định


CHÁNH KIẾN:
Chánh: đúng sự thật ;  Kiến: thấy xem xét. Chánh kiến: dòm thấy, xem đúng theo sự thật.

Phàm con người thường hay bị bản-ngã lôi cuốn trí mờ-ám làm cho sai chạy ít nhiều sự thật. Khi vì thiếu sự sáng-suốt, khi vì tư thù, khi vì lợi kỷ, khiến cho con người không biết đường ngay nẻo thẳng nên sự phán-đoán không công-bình chánh-đáng làm cho kẻ khác bị oan tình. Vì thế mục Chánh Kiến dạy ta phải đem hết trí-năng truy-cứu các sự rắc rối, cẩn-thận xem xét tránh sự lạc lầm trong khi phê phán bất cứ việc gì, dầu của mình hay của kẻ khác. Sự quan-sát cựu--điểm, cách xét đoán tận-tường, tránh cho ta những tà kiến (sự xem xét lầm-lạc) sai chạy, khiến ta dẹp bản-ngã đã làm cho trí- tuệ mịt mờ u-ám, giúp cho ta hiểu biết rõ ràng, minh bạch, cách phán-đoán được ngay thẳng công-bình.

Chẳng thế, nó còn giúp cho ta hiểu biết các điều tục-lụy trong trần, biết được lẽ nhiệm-mầu tôn-giáo, khiến ta xua đuổi các điều tà-mi, bỏ các sự say mê trở về với đạo-lý, thoát đọa hồng-trần. Nó tránh cho ta tất cả những sự giả dối và nhờ thế, nên ta khỏi bị lạc lầm trong khi hành Đạo.

CHÁNH TƯ-DUY:

Tư-tưởng chơn-chánh. Sanh ở trong trần con người thường hay bị các thị-dục cám-dỗ : lợi danh, quyền tước, nghĩa vợ tình chồng...cái tư-tưởng đã rù quến tâm trí mãi mãi quay cuồng vào những sự ấy, không thề nào thoát-ly ra được. Ấy về phần tà.

Phần chánh dạy rằng: tâm cần phải bình, tánh cần phải tịnh, giữ tư-tưởng cho thanh-cao, trí ráng tìm cái Chân-lý, Chân-lý ấy là cái Đạo của mình đối với nhân-loại, của mình đối với Trời Phật, của mình đối với mình. Vì thế, phải đặt tư-tưởng mình vào công cuộc tìm phương cứu giúp sanh-linh trong vòng trầm-luân oan-nghiệt. Hãy tin tường Phật Trời và cầu nguyện đấng Thiêng-liêng ban-bố phước lành cho nhân chúng. Hãy tìm con đường giải-thoát cho mình bằng cách lạc Đạo-an-bần, xả thân tu tỉnh.

CHÁNH NGHIỆP:
Việc làm chánh đáng ngay thẳng.

Đối với kẻ xuất-gia đầu Phật, ngoài những lúc tham thiền nhập-định, những khi trì tụng kinh hành, những khi đọc kinh viết sách, những lúc công-quả cho nhà Thiền, chẳng có việc chi có thể tạo thành ác nghiệp cả.

Những kẻ tai gia cư-sĩ, trái lại, còn cần phải lo kế sinh-nhai, mưu cuộc sống còn; kẻ buôn tảo bán tần, người việc này việc nọ, tóm lại cũng vì xác thân mà ra cả. Tuy nhiên, dầu đời sồng của họ có bị sự sinh nhai chi-phối, song cái chi-phối ấy khác hẳn với kẻ gian-tà đạo-tặc, chẳng có làm việc gì xảo-trá bất nhân. Trong cuộc mưu cầu cho lẽ sống, họ cũng nguyện bỏ những nghề nghiệp gây tai hại cho con người: nuôi điềm, bán á-phiện, buôn rượu, đầu cơ, cho vay cắt cổ v.v...

Đành rằng những người buôn bán ấy không có ép buộc bạn hàng, song tại có họ làm các nghề-nghiệp ấy, con người mới bị hư hỏng, trụy-lạc, hoang-đàng, trá hình tửu-điếm... Họ là đồng lõa mà phạm nhân là những kẻ nghiện ngập say sưa.

Thế nên mục đích Chánh-nghiệp răn cấm chúng ta làm các nghề ấy.

Kẻ tại gia cư-sĩ chũng chẳng sát hại vô cớ các sanh vật, hoặc không đánh đập chém dâm ai có thể gây ra nhiều điều tội lỗi.

CHÁNH TIN-TẤN:
Tín-ngưỡng chơn-chánh và lướt tới.

Phái vô-thần-luận thường cho rằng thân xác tức con người. Thân còn tức người còn, thân mất là người mất. Không có Thánh, Thần, Trời, Phật, không quả-báo luân-hồi; cũng chẳng có tội, có phước, có vía, có hồn. Đời là thân xác con người, sồng là tranh đấu, mạnh được yếu thua. Thế nên biết bao nhiêu mánh-khóe gian-hùng, bao nhiêu ngón điêu-ngoa xảo-trá, bao nhiêu tàn bạo ngược-ngang đều được đem ra dùng cả thảy.

Vì vậy, chánh chi-tấn nầy khuyên hãy rán giữ đức-tin cho mạnh mẽ. Dầu các thị dục có lớn lao thế mấy, dầu cho có sức lực gì cám dỗ hay bức bách bỏ lòng tín-ngưỡng Phật Trời đặng theo việc khác, các sự ấy cũng chẳng thể lôi kéo được. Và ta luôn luôn phải nhớ đến công cuộc cứu vớt quần-sanh thoát nơi khổ-hải của Đức Thế-Tôn, phải nhớ rằng sanh-linh đang chìm đắm trong bể hồng-trần, rằng ngày giờ nào còn có kẻ trong chúng sanh chịu khổ thì ta cũng phải khổ vì họ vậy, rằng ta phải có bổn phận giác ngộ trần-gian bỏ những oan trái luân-hồi cay nghiệt. Muốn thế, trước hết phải tìm phương tự-giác, nhắm cảnh Niết-Bàn tấn tới; quyết chí tu thân đắc thành Đạo quả hầu dắt dìu bá-tánh thập phương xa miền tục-lụy. Người bỏ hết các sự rầu buồn các điều tà vạy, dẹp lục căn, lục-trần và rán làm cho tinh-thần được thêm sáng suốt, rèn luyện các đức tánh cho thiện-mỹ : yên-tịnh, hỉ-lạc, nghiêm-trang quyết gắng công phu một lòng bước tới Niết-Bàn đặng quyết có tế- độ chúng-sanh thoát khỏi luân-hồi quả-báo.

CHÁNH MẠNG:
Sanh-mạng chân-chánh, trong sạch.

Ở đời, người ta hay lấy xác thân mình làm gốc và hay quí trọng săn-sóc nó. Ấy cũng do lục căn mà ra: nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý. Mắt ưa xem sắc đẹp, tai ưa nghe tiếng hay, mũi ưa ngửi hương thơm, lưỡi ưa đồ ngon béo, thân ưa sự sung-sướng, ý ưa chức-phận cao.

Người ta tìm đủ phương-thế bổ dưỡng thân xác mình, làm cho trí-tuệ càng ngày càng thêm mờ ám, ngu đần, không còn lo lắng đến sự tiêu-diệt.

Thế nên, hãy xa lánh những điều làm tinh-thần bị đen tối ; bỏ hết đài-các xa-hoa, thân mình tự chủ đễ tìm chỗ bất diệt bất sanh ; thiền định đặt làm thể, trí-tuệ đặt làm mạng, linh hồn nhập Liêu-hoa, siêu sanh vào cõi Niết-Bàn.

CHÁNH NGỮ:
Lời nói chơn thật.

Lục-căn làm cho con người nhiễm lục-trần.

Vì muốn nuôi dưỡng xác thân nên mới sanh ra các điều ham-hố là nguồn cội các tội lỗi. Trong những tội lỗi ấy, cũng có nghiệp--chướng của miệng lưởi: Lưỡng-thiệt (làm cho thiên-hạ bất hòa nhau), Ỷ-ngôn (lời chưởi mắng kẻ dưới tay), Ác-khẩu (tiếng độc ác tục-tằn, chưởi rủa Thần Thánh), Vọng ngữ (nói láo, nói huyễn-hoặc).

Hãy tập lời nói mình cho chân chánh, đúng với sự thật; hãy bỏ hết những xảo ngôn tráo-chác, những tiếng thô-lỗ cọc-cằn, phàm những khi bàn luận việc chi, phải nói tỏ tường ngay thẳng. Đối với kẻ dưới người trên, lời nói phải cho hiền-lương đức-hạnh va những sự khuyên dạy chỉ bảo kẻ khác làm theo lẽ phải đều có ích-lợi cho chúng-sanh và đều hạp với tinh thần đạo-đức.

CHÁNH NIỆM:
Ghi nhớ sự chân-chánh.

Còn cũng tưởng, mất cũng tưởng, có cũng tưởng, không cũng tưởng, bại cũng tưởng, thương cũng tưởng, ghét cũng tưởng. Thất tình lục dục bắt buộc con người phải phí biêt bao nhiêu tâm cơ, bao nhiêu trí-não phụng-sự nó. Danh lợi, cảm-tình, uy-quyền, phú-quí ... được hằng ngày ghi nhớ. Vì thế con người mãi mãi lăn lộn trong sáu đường, không thoát khỏi vòng sanh tử.

Để thoát khỏi chổ luân-hồi bỏ cuộc đời lầm than hoạn-họa, hãy rán tưởng-niệm phương pháp hành đạo, bỏ các điều phù-phiếm, ghi nhớ công lao Đức Phật đối với quần-sanh, bia-tạc vào lòng những điều Phật giáo. Phải nhớ rằng xác thân do tứ-đại (đất, nước, lửa, khí) tạo thành và sớm muộn gì nó cũng sẽ bị tan rã. Đặng vậy, ta mới bỏ được các sự xúc-động, các mối dục tình, tránh điều lụy khổ do nó gây nên.

CHÁNH ĐỊNH:
Suy-gẫm chơn-chánh.

Con người thường hay có những ý định làm cho mình được sáng thêm lên, được giầu thêm lên, được sung sướng thêm lên... nghĩa là những ý-định hoàn-toàn nhỏn nhen thấp thỏi. Họ không hiểu rằng cuộc đời là giả tạm, nay vầy mai khác, thân-thế lạc-luân, của cải gia-tài như đám phù vân trước gió, nước bọt, mây bèo. Những cái Sanh, cái Bịnh, cái Lão, cái Tử được đặt lên cuộc đời người này rồi đến ngưới khác... rồi đến người khác nữa, nghĩa là tất cả nhân-loại không thiếu sót một ai. Thế mà họ vẫn cuống-cuồng tâm trí theo bả lợi-danh, mùi phú-quí, đi theo những vặt-vụn tiểu-ti co-hẹp.

Họ không chịu hiểu rằng ngoài kiếp sống phù-du của trần-thế, có cái gì không di không dịch, vĩnh-viễn trường tồn. Nếu lấy sự Thiền định mà phá tan màn u-minh che phủ, thì thấy rằng ở cảnh ấy con người sẽ hết buồn, hết khổ, hết quả báo luân-hồi. Và khi ta dùng sự chánh-định dẹp bỏ hết các sự phiền-não rầu buồn, phá tan các làn sóng thị-dục lôi kéo vào những nẻo tà, tâm ta chẳng còn xao động, trí ta tỏ rạng như trăng rằm, một màu sáng suốt không nhiểm ô cảnh ngoại, dứt tuyệt hết phàm trần, lần bước đi đến cõi Giải-thoát.

Tải Trọn Bộ Sấm Giảng - Thi Văn Giáo Lý PDF