Lời Sấm của Đức Phật Trùm, nói về những lần Ngài chuyển thân xuống thế gian độ đời. dựa trên giảng xưa dưới bóng cội tùng
Trong lời sấm, Đức Phật Trùm mở lời kể lại những chuyện từ thuở rất xa xưa, khi trời đất và cõi người còn chưa được mở mang. Ngài cho biết rằng trên cõi Bạch Ngọc, chư Phật đã từng hội họp để bàn việc khai mở cõi trần gian. Khi ấy, Đức Thế Tôn chỉ định Hồng Quân lo việc này. Hồng Quân suy xét rồi thấy Lão Tử là người phước dày, đức cao nên được truyền lệnh xuống thế gian để khai thiên mở địa, sắp đặt mọi việc cho trời đất và con người.
Theo lời Sấm, trời được sinh vào thời Tý, đất mở vào thời Sửu và con người sinh vào thời Dần. Đến đầu Ngươn Giáp Tý, Lưỡng Nghi được phân định, rồi đến Tứ Tượng, Bát Quái và Ngũ Hành. Sau đó, Tam Hoàng mở mang trời đất và cõi người. Phục Hy phân định bốn mùa, tám tiết; Thần Nông phân chia các loài, tìm hiểu cây trái và thuốc men để lại cho con người; Huỳnh Đế đứng ra lập ngôi Trời. Rồi có vua, có chúa cai trị nhân gian. Vua Nghiêu trị quốc khiến khắp nơi được an nhàn, Chúa Thuấn kế vị, đem đức lành ban rải cho đời. Những vị ấy được gọi là Ngũ Đế, để người đời biết đến thời Thượng lai.
Sau khi nói về thuở khai mở ấy, Ngài kể rằng mình đã nhiều lần chuyển thân xuống trần gian chứ không phải chỉ một lần. Vào thời Trung Ngươn, khi có việc Phong Thần, thuận theo cơ trời đã định, Ngài xuống trần để giúp nhà Châu. Sau đó, Ngài lại tiếp tục chuyển luân để làm cho đạo lý chân chính được hưng thịnh. Khoảng thời nhà Châu ở Trung Quốc, vào thời Định Vương, Ngài ra đời tại tỉnh Hồ Quảng. Đó là ngày rằm tháng hai, khi trăng sáng trời trong. Khi ấy Ngài mang tên Lý Nhĩ, tức Lão Tử. Ngài viết Đạo Đức kinh, để truyền đạo lý đi khắp bốn phương và khuyên người đời biết tin vào đạo đức.
Nhưng Ngài không chỉ xuất hiện một lần. Thấy cuộc đời ngày càng u tối, Ngài nhiều lần chuyển kiếp để khuyến tu. Ngài nhìn thấy con người khổ sở, gia đình chia lìa, vợ chồng, cha con không còn được yên vui nên dốc lòng dẫn dắt chúng sanh ra khỏi cảnh khổ. Đến thời Hạ Ngươn, Ngài lại tái lai ở phương Nam. Phật Trời chuyển Ngài về Nam Kỳ, nơi sẽ mở hội để chọn những người trung hiếu phò trợ Minh Vương. Ngài nhắc người đời phải lo tu hành, phải hiểu đạo Kỳ Hương và chuẩn bị cho ngày Long Hoa. Ngài cũng báo rằng mình có thể xuất hiện bất ngờ để nhắc nhở bổn đạo phải sửa mình.
Ngài kể rằng ngày trước mình từng ở Thất Sơn, lấy hiệu Bửu Sơn để truyền giáo và có Thập Nhị Hiền làm môn đồ. Sau đó, Ngài tiếp tục chuyển thân và nói rõ rằng thân Phật Trùm cũng là một lần Ngài chuyển thân xuống thế gian. Ngài xuất hiện ở vùng Tà Lơn để độ chúng sanh và mang danh hiệu Phật Trùm.
Nhưng con đường độ đời ấy không phải là con đường dễ dàng. Phật Trùm đã trải qua rất nhiều gian truân. Ngài từng bị người Tây bắt giữ và hành hạ nhiều lần, bị nhốt vào cũi sắt, bị bỏ đói nhiều ngày nhưng vẫn sống. Người ta còn dùng nhiều cách khác nhau để hành hạ Ngài, có khi dùng chảo đồng nung đỏ bắt Ngài đội lên đầu, có khi đem chất độc ra bắt Ngài uống. Rồi Ngài còn bị đày ra đảo, phải sống giữa cảnh mịt mù và giữ heo như người tù. Qua những gian khổ ấy, lời Sấm nhắc người tu rằng ngay cả Phật cũng có thể gặp tai nạn, nghịch cảnh và thử thách. Vì vậy, đã bước vào đường tu thì không được vì gian nan mà nản chí. Như câu:
"Phật còn mắc nạn ai suông đặng nào
Tu hành lận đận lao đao
Chập chồng tai nạn chớ xao nản lòng"
"Phật còn mắc nạn ai suông đặng nào
Tu hành lận đận lao đao
Chập chồng tai nạn chớ xao nản lòng"
Sau đó, Ngài nói mình tiếp tục chuyển thân trong vùng Thất Sơn. Đức Bổn Sư cũng là Ngài chuyển thân tiếp tục lưu truyền kinh sách và làm cho đạo lý được hưng thịnh. Đạo Hiếu Nghĩa cũng nằm trong dòng Sơn Bửu – Kỳ Hương.
Rồi Ngài lại hiện kiếp thành Sư Vãi vì thương thế trần. Ngài chèo thuyền lên xuống trên sông Vĩnh Tế, đi bán bắp bán khoai, gần gũi với người dân và khuyên mọi người tu niệm, bớt tham lam, gian dối. Ngài cảnh báo rằng những người hung bạo, làm điều ác thì không thể có được sự bình an. Nếu không chịu tu sửa thì tai họa sẽ đến. Ngài truyền kinh Sư Vãi, kết lại thành một quyển để trao cho đời. Bởi Long Hoa sắp mở nên Ngài vẫn phải tiếp tục đi đây đó, không thể nghỉ ngơi.
Dù tuổi già sức yếu, Ngài vẫn tiếp tục bôn ba vì thương trăm họ. Ngài nói mình lãnh lệnh Thiên Cung, mang trên vai một trách nhiệm rất nặng. Đến năm Mèo, Ngài tiếp tục nhận lệnh đi khuyên dân. Ngài chuyển qua họ Huỳnh, đem đạo lành truyền bá để giúp người đời thoát khỏi mê lầm. Ngài chèo thuyền rước khách, đưa người rời khỏi biển tục, hướng về nơi thanh tịnh. Ngài kêu gọi già trẻ, gái trai hãy sửa đổi tánh hạnh và học theo bài Quy Y. Ngài cũng nhắc đến Phật Thầy, Phật Tổ Mâu Ni, các vị Thượng Đẳng và Chư Vị Trăm Quan. Các Ngài xuống thế để sửa sang cuộc đời, sắp đặt mọi việc cho kỳ ba. Các Ngài chuyển thân khắp nơi, và người đời muốn có thiện duyên thì phải biết Quy Y. Những lời thi văn và pháp mầu được truyền lại cũng cần phải cố gắng hiểu và thực hành. Nếu không lo tu sửa thì sẽ chậm trễ kỳ thi.
Ngài nói mình sẽ trở lại giống như họ Huỳnh, chuyển xác thân vào năm Thìn. Nhưng người đời có thể không nhận ra, thậm chí còn chống đối. Dù vậy, Ngài vẫn trở về đúng kỳ ba, khi Long Hoa vén màn. Ngài nhắc lại rằng trước đây mình từng ở Nam Vang, Long Xuyên, Châu Đốc rồi đến Sài Thành. Miền Trung cũng có người lành, còn Hậu Giang sẽ là nơi phân định rõ ràng trong kỳ cuối. Ngài kêu gọi mọi người đừng bỏ mất mối giềng đạo nghĩa.
Ngài nói đến việc lập hội, đến dòng sông Cửu Khúc, nơi Phật Tiên sẽ ra đời. Họ Huỳnh đã để lại những lời về Long, Lân, Quy, Phụng và bóng tùng. Đến một ngày, Chúa tôi sẽ tương ngộ, mọi người sẽ biết rõ Lão Khùng là ai. Nhưng tất cả vẫn phải chờ đúng thời cơ do Trời định. Khi cơ trời đã đến đúng giờ thì mọi việc sẽ hoàn thành.
Ngài kêu gọi nam nữ ở khắp nơi cùng chờ ngày thống nhất. Đến tuổi Mùi, Khôn Đoài xuất hiện, báo hiệu sự an vui. Thất Sơn sẽ lộ vẻ, tiếng Trà Cui vang lên, xuồng ghe qua lại đông đúc, người có căn lành sẽ quy tụ. Ngài gọi những người có tài hãy chuẩn bị, người giỏi văn thì ôn văn, người giỏi võ thì luyện võ để chờ ngày ứng khoa.
Dù tuổi đã cao, Ngài vẫn mong các đệ tử gần xa mau trở về. Ngài nhắc rằng ngày xưa mình đã có lời nguyện và hứa sẽ gần ngày chuyển thế, giữ trọn con đường chính trung. Nay Ngài lập lại cội tùng, che chở cho những người cùng đi trên con đường ấy. Ngài mong đến ngày mọi người được gặp nhau, quân thần, cha con cùng đoàn viên như một nhà. Khi ấy Ngài mới mãn nguyện và cùng mọi người hát khúc khải hoàn.
Ngài kể rằng mình đã trải qua một thời gian rất dài, tuổi đã trên ngàn năm, nhưng trong lòng vẫn chưa được yên. Từ Trung Quốc, Ngài đi vòng vào phương Nam, chịu nhiều gian khổ vì thương chúng sanh. Ngài bị đày xuống trần, chịu cảnh chông gai, rừng rú, sỏi đá, nhưng vẫn quyết lòng phá dọn để xây dựng thời Thượng Ngươn. Ngài nhắc đến tiếng sấm ở Thất Sơn và cơ lý đang được khai mở.
Ngài nói đến chữ Sơn, hiệu của Phật Thầy, đến vị Tổ thứ bảy và những dấu hiệu liên quan đến Bửu Ngọc Tòa. Nhưng vì thời cơ chưa đến nên có lúc Ngài phải ẩn mình, không xuất hiện. Ngài cảnh báo rằng nếu người đời chỉ chạy theo hình tướng bên ngoài mà bỏ quên điều chân thật thì sẽ không nhận ra Ngài. Ngài nói mình dùng cái chơn không, đi theo Lục Tổ, nên không phải ai cũng có thể nhận biết.
Ngài sẽ trở về đúng lúc. Có khi Ngài nói chuyện từ xa, có khi lại xuất hiện rất gần. Nhưng mục đích vẫn là thương người đời và nhắc nhở không ngừng. Ngài vui khi thấy người tu biết trung với Thầy, hiếu với đạo và biết vun bồi đạo đức. Nhưng Ngài cũng lo cho những người phụ Thầy, không biết Ngài trở về mà cứ nằm ình chờ, không chuẩn bị cho ngày hội. Ngài lo rằng nếu chỉ chạy theo công danh mà không có đạo đức thì đến ngày hội sẽ không biết phải đi về đâu.
Từ đây, Ngài nói rằng những lời truyền sẽ hướng rõ hơn vào một thời kỳ mới. Mỗi người đều có căn duyên của mình. Ai biết tìm Thầy, gieo thiện duyên và lo tu hành thì mới có cơ hội tiến bước. Nếu không có Thầy chỉ dạy thì khó biết đường tu và khó đạt thành Phật Tiên. Ngài kêu gọi mọi người trở lại với mối đạo, ghi nhận con đường Bửu Sơn và tu hiền.
Ngài nói Minh Hoàng sẽ tỏa rạng nơi Đông, Thất Sơn sẽ tỏa rạng và Lão Ông sẽ ra đời. Ngài kêu gọi mọi người khắp nơi trở về Tây Nam, chuẩn bị cho ngày hội. Cần Thơ sẽ có trường thi, nơi người đời đem văn, đức và tài ra để thử sức.
Đến ngày hội, mười phương chư Phật sẽ cùng về, ba cõi cùng hội tụ. Những người có căn lành sẽ quy tụ. Phật Thầy và Đức Thế Tôn sẽ định phần cho mỗi người. Một thời kỳ như vậy muôn thu mới có một lần, vì thế thiện nam tín nữ phải lo sửa thân cho tròn.
Người tu chưa đầy đủ thì tiếp tục tu, cố gắng bù đắp những điều còn thiếu. Muốn giữ đạo làm con thì phải biết trọn vẹn mười ơn, biết ơn cha mẹ, đất nước, thầy bạn và những người có công với mình. Tình nghĩa giữa thầy trò, anh em, vợ chồng và bạn bè đều phải được giữ gìn. Vợ chồng phải biết nhường nhịn, bạn bè phải đoàn kết, sống với nhau phải có nghĩa có tình. Ai giữ được những điều ấy thì đến ngày hội sẽ được Phật Trời thưởng ban.
Ngược lại, những người sống ngang ngược, hỗn hào với cha mẹ, phản thầy, phản đạo thì sẽ phải chịu sự phân định. Ngài nhìn vào xã hội và đau lòng trước cảnh người làm quan chỉ lo xây dựng nhà cửa, lầu đài cho bản thân, mặc kệ nước nghèo dân khổ. Luật nước nếu không được giữ gìn, việc xử xét không công bằng thì dân tình sẽ khổ đau.
Ngài đau lòng khi nhìn thấy con giết cha mẹ, vợ chồng chém giết lẫn nhau, con người đối xử với đồng bào còn tệ hơn cây cỏ vô tri. Đời Hạ Ngươn có quá nhiều chuyện đau lòng, lòng người rối loạn và nghĩa nhân ngày càng mất đi.
Ngài cũng cảnh báo rằng con người càng văn minh, học thức càng cao nhưng nếu vì thế mà chê Trời, chê Thần, chê Thánh, coi thường đạo lý thì sự văn minh ấy lại trở thành vô minh. Học nhiều mà trở nên vô minh, khinh khi đạo nghĩa thì cũng không phải là điều tốt. Điều đáng quý là con người biết điều thiện, biết điều phải và biết sống đúng đạo.
Phật Thần có thể không hiện ra trước mắt nhưng không có nghĩa là các Ngài không biết những việc xảy ra nơi trần gian. Ứng thân có thể hiện ra một cách huyền vi, biết rõ những việc trong đời và những suy nghĩ, tính toán trong lòng con người.
Vì vậy, Ngài kêu gọi tất cả già trẻ, gái trai hãy sống sao cho xứng đáng với người xưa. Ngày ngày phải giữ lòng thiện, sống giản dị, bền lòng không nản chí.
Sau đó, Ngài lại khải tiếng đàn, gọi những người có căn duyên ở Thất Sơn trở về. Tiếng đàn ấy như lời kêu gọi người học đạo tỉnh thức và trở về đúng bến. Ngài nói đến Lão Ông trở lại vùng đất Thuấn Nghiêu, đồng thời cảnh báo rằng nếu âm dương nổi loạn, con người tranh giành thì sẽ khó thoát khỏi tai họa.
Ngài nhắc lại chuyện Phong Thần, chuyện nhà Châu hưng thịnh và diệt nhà Trụ, chọn người hiền lương. Rồi Ngài nói đến cảnh các thế lực nổi lên tranh quyền Đế Vương. Ngài nhắc đến Di Lặc Phật Vương, người sẽ diệt tà lập chánh. Ngài nói đến một vị Bạch Sĩ sẽ xuất hiện, đến hội Long Hoa và những người nam nữ có chí cùng phò trợ Đế Vương.
Các Đấng huyền vi sẽ nghe lời kêu gọi và cùng trở về nhận phần việc của mình. Những Đấng ấy sẽ chuyển xác trần, cùng ra oai và lập quốc. Thời ấy không còn xa. Núi có thể mòn, biển có thể cạn, rồi sau một trận biến chuyển lớn, những gì cũ kỹ sẽ thay đổi.
Sau những biến chuyển ấy, Bửu Sơn sẽ sửa trị, giúp dân được an, nước được lành. Ngài tiếp tục kêu gọi bá tánh tu hành và tìm cho được điều cốt lõi để hiểu đúng đường tu. Đến tháng tám mùa thu, Tùng Quân sẽ tỏa rạng, người có tài sẽ có dịp trổ tài.
Tùng Quân sẽ chuyển lại dòng sông Phước Bình. Sau thời kỳ nhục sẽ đến thời kỳ vinh. Tùng Quân tái lai, những dấu hiệu mới dần lộ ra. Tùng Quân sẽ thiết lập nhà Châu và chờ đúng thời. Đến lúc ấy, người đời có thể không ngờ đó chính là Lão Ông. Ngài cũng báo trước những biến động lớn và nhắc người tu sĩ phải sửa mình. Ngài không muốn mọi người chỉ ngồi chờ, mà phải chủ động tu sửa bản thân.
Ngài nói tiếng đàn này là tiếng đàn của Lão Ông, không cần dây, không cần phím và không mang oán hờn. Ai hiểu được tiếng đàn thì phải biết giữ đúng nhịp, bởi thời kỳ Thất Sơn đã gần. Ngài sẽ chèo thuyền rước những người biết giữ trọn hiếu và trung về nơi an lành. Cảnh Bồng Lai tiên cảnh sẽ dành cho những người biết sống theo đạo lý của Trời.
Rồi Ngài nhắc lại những chuyện từ thuở khai mở ban đầu. Ngài nói mình từng ở nhiều phương trong trời đất. Tam Quang, Ngũ Đế cũng chuyển xoay qua nhiều thời kỳ. Đặc biệt, Ngài nói:
Thích Ca cũng có Lão mà
Tổ Sư Đạt Ma cũng Già này đây
Về Nam lấy hiệu Phật Thầy
Đầu Ngươn đến cuối Lão đây chuyển hoài.
Theo lời Sấm, Ngài nhắc lại những lần chuyển thân qua nhiều thời kỳ, trong đó có Thích Ca, Tổ Sư Đạt Ma và khi về phương Nam thì lấy hiệu Phật Thầy. Kỳ này Ngài được lệnh khai mở tại Nam Kỳ và gọi đây là kỳ chót. Ngài căn dặn thiện nam tín nữ ở khắp nơi hãy ghi nhớ những lời Sấm truyền vào lòng.
Ngài nói rằng trong vòng mười hai con giáp, kể từ Giáp Tý, Ngài xuống trần. Ngài cầm bảng Phong Thần, trong tay có quyển thiên thơ, cơ binh đã sắp sẵn và chờ lệnh bên trên. Có những việc phải thất bại rồi mới lập lại được, có những điều phải trải qua biến đổi mới có thể vững bền lâu dài.
Đến các năm Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tứ Giáo sẽ lần lượt ra oai. Sau đó sẽ đến thời kỳ hội niên, lập lại Thượng lai theo lời đã truyền.
Khi ấy, trần gian sẽ trở nên giống như cõi Trời. Con người được sống bình đẳng, an nhiên, không còn phải làm lụng cực nhọc và than phiền như hiện tại. Tuổi thọ được kéo dài, con người không còn già yếu, bệnh tật như trước. Cây lành trái ngọt, mưa thuận gió hòa, thế giới được bình an, âm dương hòa hợp, cuộc sống thịnh vượng.
Chim oanh múa hát, hoa cười, khắp nơi no ấm vui tươi. Trong gia đình, vợ chồng sống thuận hòa, con cái hiếu thảo, biết chia sẻ ngọt bùi. Người đứng đầu đất nước sáng suốt, chính trực; thần dân biết trung nghĩa, nên cuộc sống được vui vầy.
Nhưng Ngài nhấn mạnh rằng muốn được bước vào thời kỳ ấy thì phải tu. Có tu mới có hy vọng. Không tu thì dù có mong chờ cũng không thể vào. Có tu thì đến ngày hội mới được dự; không tu thì không thể nhập trường.
Ngài nói mọi việc trước sau sẽ được phân giải rõ ràng, người cao người thấp đều được định phần. Ngài nhắc đến những người bất lương như Trịnh Hâm, Bùi Kiệm và những người hiền thần, trung thần như Nhơn Quý để nhắc lại bài học về người tốt, kẻ xấu và sự phân định trong cuộc đời.
Cuối cùng, hình ảnh con thuyền lại xuất hiện trên sông Tiền, sông Hậu. Con thuyền lênh đênh chưa biết sẽ về bến nào. Trời đã về chiều, gió thổi xạc xào. Ngài nói mình dừng thuyền để tìm những người có đủ nghĩa, đủ nhân, đủ tài và đủ đức, rồi mới định phần cao thấp. Ngài kêu gọi những người có chí khí hãy mau mau tỉnh thức, bởi thời gian không còn nhiều.
Sau cùng, Ngài nói rằng mình đã trở về đúng kỳ để khai Ngươn, lập Thượng Bửu Kỳ. Hương Trùm sẽ góp sức dẹp chiến tranh, Chơn Sư truyền bá đạo lành ra năm châu. Người đời sẽ quy phục, bóng tùng sẽ che phủ khắp nơi và đem lại sự an nhàn. Cội lành Sơn Bửu sẽ được vinh vang, Tùng Quân sẽ xuất hiện và đem lại cảnh đời thảnh thơi.
Và cuối cùng, Ngài mong những lời đã truyền lại được người đời xem xét, suy ngẫm và bàn luận để biết tu thân.
Qua toàn bộ lời Sấm, điều nổi bật nhất không chỉ là những chuyện về quá khứ, những lần chuyển thân hay những biến chuyển của thời cuộc, mà còn là lời nhắc nhở con người phải biết sửa mình, giữ lòng thiện, sống có nghĩa có tình, hiếu với cha mẹ, trung với đạo, biết thương người và lo tu hành. Bởi theo lời Sấm, đến ngày hội lớn, mỗi người sẽ phải tự nhận lấy phần của mình;có tu thì mới có thể bước vào, còn không tu thì dù có mong chờ cũng không thể nhập hội.
Đây là lời Sấm được viết lại dưới dạng văn xuôi, các bạn đọc lại nguyên bản để đối chiếu.
Tải lời Sấm Dưới Bóng Cội Tùng của Đức Phật Trùm tại đây
Đây là lời Sấm được viết lại dưới dạng văn xuôi, các bạn đọc lại nguyên bản để đối chiếu.
Tải lời Sấm Dưới Bóng Cội Tùng của Đức Phật Trùm tại đây